Lịch sử Anh hùng Trần Suyền

Đồng chí Trần Suyền sinh năm 1922 trong gia đình tiểu chủ. Cha mất sớm, mẹ già yếu không đủ sức nuôi anh tiếp tục học hành. Vợ chồng cụ Trần Quốc Ấm – chú thím ruột, thấy anh học hành thông minh và hiếu học nên nhận anh về làm con. Anh tiếp tục học Trung học ở Huế.  
 
071229-Tran-Suyenjpg1.jpg
Đồng chí Trần Suyền
Đến năm 1942, anh đỗ tú tài tại Huế, bà con trong xóm làng trân trọng rước anh về quê để làm cái gì đó cho quê hương xóm làng, anh từ chối và lúc này anh đã kết hôn với chị Nguyễn Thị Phú – bạn học cùng lớp. Chị Phú và anh thấy cả hai tiếp tục học không đủ sức, nên chị tự nguyện thôi học, để làm nuôi anh ăn học đến nơi đến chốn. Anh tiếp tục ra Hà Nội học Trường Đại học Canh nông (Đại học Nông nghiệp bây giờ), anh nghĩ rằng Phú Yên là tỉnh nông nghiệp, anh thích học và nghiên cứu các giống cây trồng và vật nuôi, để mai sau góp phần vào sự phát triển kinh tế tỉnh nhà.
 
Năm 1945, phong trào cách mạng ở Hà Nội phát triển mạnh đã làm ảnh hưởng vào các trường đại học. Sinh viên phần lớn đã bỏ học đi tuyên truyền Việt Minh, tuyên truyền cách mạng, liên lạc với Việt Minh để hoạt động. Anh cũng vội vàng bỏ học về quê, để tuyên truyền phổ biến tình hình Việt Minh ở Hà Nội. Anh cũng đã liên lạc với nhóm tri thức trẻ ở thị xã Tuy Hòa và bắt đầu hoạt động, để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở Phú Yên và sau đó cùng nhân dân tỉnh nhà khởi nghĩa thành công.
 
Ngày 28/8/1945, anh Suyền được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời phủ Tuy Hòa. Nhưng chưa được bao lâu, do tình hình xã hội lúc này có nhiều tổ chức cách mạng liên lạc khác nhau: số liên lạc với Hà Nội, số liên lạc với Sài Gòn, số tù chính trị từ Buôn Ma Thuột về, số tù từ Trà Kê về, đều là cách mạng nhưng chưa kịp hiểu nhau, nên nhóm anh và cá nhân anh bị bắt giữ một thời gian ngắn (theo anh kể). Đến đầu năm 1946, anh được trả tự do. Anh rất thông cảm với hoàn cảnh cách mạng lúc bây giờ, nên trở lại Hà Nội tiếp tục học đại học (vì trường đại học đã mở dạy lại). Khi anh trở ra Hà Nội, được thầy và cô giáo, bạn bè cũ giới thiệu vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ). Anh được kết nạp Đảng vào tháng 10/1946 tại Hà Nội.
 
Tháng 5/1947, anh được Việt Minh Hà Nội giới thiệu về tham gia Việt Minh tỉnh Bình Định. Đến cuối năm 1947, anh về lại Phú Yên, tham gia vào Tỉnh ủy Phú Yên, được phân công làm chính trị viên tỉnh đội. Năm 1948, anh trúng cử vào Ban chấp hành Nông vận Liên khu V, được tham gia vào đại biểu Liên khu V đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2. Sau khi trở về, anh tiếp tục làm Nông vận Liên khu V đến ngày đình chiến.
 
 
071229-suyen2.jpg
Đồng chí Trần Suyền (thứ ba từ trái sang) cùng tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên năm 1961 – Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

 
Tháng 7/1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, đa số cán bộ chủ chốt của Phú Yên đi tập kết miền Bắc, anh Suyền tự nguyện ở lại miền Nam, ở lại Phú Yên để hoạt động bí mật. Anh được Liên khu ủy V chỉ định, bổ sung vào Tỉnh ủy, với “mật danh” là “Sáu Râu”. Cái tên “Sáu Râu” đó anh đã dùng suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Phú Yên, để giao dịch và ký tên trong các loại văn bản, giấy tờ. Anh làm Phó Bí thư trong suốt thời gian anh Năm Phổ, anh Mai Dương làm Bí thư Tỉnh ủy. Anh “Sáu Râu” có tác phong cần cù, chịu khó suy nghĩ, quyết đoán; cái ghì khó mấy, gian khổ mấy anh cũng kiên trì làm, hoặc giúp đỡ, tạo điều kiện cho cấp dưới làm, trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệm thực tế để chỉ đạo. Anh là con người cụ thể, làm việc cụ thể, hiểu tình hình cụ thể, không qua loa đại khái. Các anh chị em cán bộ ngại làm việc và ngại báo cáo tình hình cụ thể với anh, nhưng anh rất có tình thương và trách nhiệm với anh chị em, với đồng chí, đồng đội. Anh tâm sự với tôi: “Người lãnh đạo mà sơ suất một việc nhỏ, có khi gây tổn thất lớn đến tính mạng anh chị em cán bộ và cơ sở, thiệt hại đến phong trào cách mạng”, cho nên anh thường nói: “Lãnh đạo phải chín chắn, thận trọng”.
 
Năm 1955-1956, địch đàn áp khủng bố, bắn giết nhiều đảng viên, cán bộ ta. Số bị bắt tù đày Côn Đảo, số phải rời bỏ quê hương trốn đi nơi khác làm ăn, số ở tại chỗ tạm thời nằm im để chờ cơ hội, không dám hoạt động. Cơ sở cách mạng không còn bao nhiêu, phong trào cách mạng “núng thế”. Tình hình vô cùng khó khăn. Các đồng chí huyện ủy viên bí mật phụ trách một huyện, hay một xã bị đứt liên lạc, không còn mấy người liên lạc được với Huyện ủy, có đồng chí bị đứt liên lạc trong 6 tháng, có đồng chí cả năm trời. Trong số đó có đồng chí Đỗ Hòa Thái (Hai Tín), Phó Bí thư Huyện ủy Đồng Xuân, phụ trách Khu 6 (các xã thuộc Sông Cầu) bị đứt liên lạc với Huyện ủy Đồng Xuân hàng năm, không nghe tin hoạt động, cũng không nghe tin bị địch bắt, hay đầu hàng, dự đoán anh vẫn còn sống, đang ẩn nấp  một nơi nào đó.
 
Trước tình hình đó, anh “Sáu Râu”, vốn người xông xáo, mạo hiểm, đã nhận nhiệm vụ trực tiếp đi tìm anh Đỗ Hòa Thái. Anh cùng một cán bộ liên lạc huyện Đồng Xuân dẫn đường, vượt sông, xuyên núi từ Đồng Xuân, đến bám sát đường số 1A (Sông Cầu). Anh cải trang một mình đi hợp pháp vào xóm làng xã Xuân Lộc để dò la tìm hiểu tin tức anh Đỗ Hòa Thái. Anh cố hết sức nhớ lại những lần tâm sự với anh Thái. Trước khi đi Sông Cầu, anh Thái có kể chuyện một vài người quen biết ở Xuân Lộc. Sau một tháng trời lăn lộn, nguy hiểm, anh đã tìm được cơ sở tiếp tế cho anh Đỗ Hòa Thái. Chị cơ sở kể lại cho anh Sáu: “Anh Hai Tín còn sống, chỉ còn có một người liên lạc, nhưng hai người đều ở riêng, sống ngăn cách không gặp nhau. Chị là cơ sở tiếp tế, nhưng cũng chỉ biết đem cơm đến điểm hẹn, đặt cơm tại đó, gõ ám tín hiệu, cả hai anh mỗi người tự tới lấy ăn chứ không gặp mặt. Hai anh ở hang gộp nào đó, không biết tin tức, hoạt động. Bây giờ có việc gì thì viết mấy chữ bỏ vào nắm cơm, đặt tại chỗ, anh lấy cơm sẽ nhận được thư”.
 
Anh “Sáu Râu” làm theo sự hướng dẫn của chị cơ sở, viết mấy chữ. Anh Đỗ Hòa Thái nhận được thư liền ra khỏi gộp đến nhà chị cơ sở gặp anh “Sáu Râu”. Anh Sáu đưa anh Thái về căn cứ của Tỉnh ủy để chăm sóc cho phục hồi sức khỏe, vì tóc tai, da thịt anh đều bạc trắng, anh chị em gọi đùa là “Bạch mao nam”. Hỏi anh vì sao còn liên lạc, còn cơ sở tiếp tế mà anh sống đến nỗi này? Anh Thái kể, vì xung quanh cơ sở đều bị bắt hết, nghe tin tức huyện nào cũng bị lộ, xã nào cũng bị bắt, anh duy nhất còn có một cơ sở tiếp tế, nên giữ để nuôi anh, anh cố chờ đợi để bắt liên lạc, nếu chúng nó bắt hết, thì không còn nơi dung thác. Tuy thế, nhưng anh vẫn cảnh giác tình huống xấu nhất, kể cả người liên lạc của mình.
 
Ở huyện Tuy Hòa 2, sau khi anh Nguyễn Đình Thành – Bí thư Huyện ủy bị bắt thì anh Công Minh, Phó Bí thư Huyện ủy cũng bị đứt liên lạc với Huyện ủy và Tỉnh ủy. Anh “Sáu Râu” với kinh nghiệm đã có, với tính kiên trì chịu khó, chịu khổ, đã tìm mọi cách để cùng với Huyện ủy Sơn Hòa bắt liên lạc với số người Kinh ở Hòa Định làm ăn buôn bán ở các xã dân tộc miền núi, như Cà Lúi, Suối Trai để dò la tin tức anh Công Minh, xem anh có bị địch bắt, giết, hay có hoạt động gì không? Anh hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho tôi về Tuy Hòa 1 và cải trang hợp pháp sang Tuy Hòa 2, gặp các cơ sở đã từng buôn bán ở các xã miền núi, vừa đi, vừa xây dựng cơ sở, phát triển Đảng, xây dựng phong trào từ Hòa Thắng, Hòa Định, Hòa Quang đến Hòa Trị để bắt liên lạc với anh Công Minh đang bám cơ sở nằm chờ ở đâu đó.
 
 
071230-SUYEN.jpg
Đồng chí Trần Suyền đứng ở hàng thứ hai (thứ ba từ trái sang) cùng các vị lãnh đạo tỉnh Phú Yên trong chiến tranh chống Mỹ và các ân nhân tham gia giải thoát gặp gỡ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (đứng hàng thứ hai, vị trí thứ sáu từ trái sang) trong chuyến về thăm Phú Yên ngày 11/3/1993 - Ảnh: TƯ LIỆU

 
Đúng như dự kiến, sau 3 tháng, tôi đã xây dựng được 3 chi bộ: Hòa Thắng, Hòa Định và Hòa Quang, bắt liên lạc được với cơ sở của anh Công Minh và đến thăm anh đang nằm giữa đống mía tại cánh đồng Quy Khánh (Hòa Trị, cách Chóp Chài độ vài cây số). Sau đó tôi đưa anh Công Minh về lại Tuy Hòa 1, gặp anh “Sáu Râu”, nhận nhiệm vụ củng cố lại Huyện ủy Tuy Hòa 1.
 
Thời gian này là thời gian khó khăn nhất, cán bộ tổn thất nhiều nhất, nhưng anh “Sáu Râu” đã đi hết huyện này đến huyện khác, tìm người này đến người khác để truyền đạt các Chỉ thị, Nghị quyết, trực tiếp hướng dẫn phổ biến kinh nghiệm của huyện này cho huyện khác, kinh nghiệm của đồng chí này cho đồng chí khác, vì lúc này không có thông tin nào khác và tốt nhất là truyền đạt trực tiếp bằng miệng.
 
Một lần anh “Sáu Râu” từ tỉnh đi hợp pháp đến huyện Tuy Hoà để truyền đạt chủ trương chống bầu cử Quốc hội của Ngô Đình Diệm. Vào một nhà cơ sở ở thôn Mỹ Phong, xã Hoà Đồng, gặp lúc địch đang tố cộng, cả hai vợ chồng cơ sở đều sợ địch, muốn tìm cách đẩy anh đi. Anh Sáu tìm mọi cách giải thích, thuyết phục đến khoảng 2 giờ sáng vẫn không có kết quả. Anh chị chủ nhà vẫn cứ nằn nì mời anh đi nơi khác, “Ở lại đây lộ ra địch nó giết cả nhà”. Cuối cùng, anh Sáu phải cáu quát lên: “Trời đã sáng bảo tôi đi đâu? Chính địch nó khủng bố đàn áp, nên ta mới phải làm cách mạng, mới lật đổ nó đi, tiêu diệt nó đi, chứ bây giờ anh chị bảo tôi đi “lạy” cho nó khỏi khủng bố à? Tôi không đi đâu cả, ở lại đây tôi làm cách mạng với nhân dân!”. Anh chị cơ sở thấy anh Sáu cương quyết và có tình, có lý nên xin lỗi anh và che chở cho anh Sáu qua một ngày ngột ngạt. Tối hôm sau, anh Sáu chuyển sang công tác một nơi khác. Về Tỉnh ủy, anh kể chuyện lại cho mọi người nghe và bảo: “Khi địch nó đàn áp, khủng bố ác liệt, một cơ sở trung kiên, tốt như thế nhưng có lúc cũng phải dao động”. Sau đó, anh gửi thư đề nghị Huyện ủy Tuy Hòa kết nạp cả hai vợ chồng cơ sở đó vào Đảng, coi đây là một thử thách.
 
Năm 1959, tuy chưa có Chỉ thị của Trung ương hướng dẫn tiến hành diệt ác ôn để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở Phú Yên, nhưng anh Sáu được trực tiếp gặp các đồng chí Trung ương cục đang trên đường công tác từ Nam Bộ ra Bắc, trong đó anh Ba Duẩn (đồng chí Lê Duẩn), kể chuyện Nam Bộ đấu tranh chính trị, kết hợp với diệt ác ôn đầu sỏ, để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Lần đầu tiên anh Sáu đưa vấn đề này ra Tỉnh ủy Phú Yên để bàn. Sau khi nắm tình hình, xem xét các đối tượng ác ôn, Tỉnh ủy thấy nổi lên tên Thống Cường là tên xã trưởng gian ác nhất, lại nằm sâu trong vùng căn cứ cách mạng (Suối Trầu), gây trở ngại rất nhiều cho phong trào cách mạng, cần phải diệt để làm gương. Vốn là người thận trọng, cùng với quyết tâm tiêu diệt bằng được tên Thống Cường, anh Sáu nhận nhiệm vụ. Anh trực tiếp cùng với 4 đồng chí Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Sa, Trần Ân, Huỳnh Nộ do một cơ sở dẫn đường đến tại nhà, tiêu diệt tên Thống Cường cùng với đầy đủ tội ác của hắn. Tên Thống Cường bị tiêu diệt, hầu hết các cơ sở địch đều hoang mang dao động, phong trào cách mạng Xuân Phước, Đồng Xuân phát triển, nhân dân Phú Yên vô cùng phấn khởi.
 
Chủ trương cùng với kinh nghiệm “diệt trúng đầu rắn, bắn trúng đầu chim”, “diệt một tên để rung chuyển cả bọn” từ đó được phổ biến cho toàn tỉnh. Các địa phương mạnh dạn tiến hành diệt ác ôn, phá kèm, đấu tranh chính trị, binh vận ồ ạt, từ đây dẫn đến phong trào Đồng Khởi ở Phước Tân, Cà Lúi, Hòa Thịnh...
 
Năm 1961, Khu ủy điều động đồng chí Mai Dương, Bí thư Tỉnh ủy đi nhận công tác khác. Anh “Sáu Râu” được giao nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy, đồng thời Trung ương giao một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: Bằng mọi cách giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đang bị Mỹ - Diệm lưu đày ở Phú Yên, đưa luật sư ra vùng giải phóng và đưa về Trung ương nhận nhiệm vụ mới.
 
Vốn là người trầm tính, kín đáo, ít nói, nhận nhiệm vụ đặc biệt này, anh Sáu càng suy nghĩ, càng mất ăn mất ngủ, mà không dám tâm sự với ai, chỉ trực tiếp bàn với đồng chí Nguyễn Lầu - Tỉnh đội trưởng, đồng chí Công Minh - Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa 2, để tìm cách móc nối cơ sở và chuyển thư cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, để luật sư biết ý định này của Trung ương mà chuẩn bị. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đồng ý, nhưng không biết cách nào ra được. Dưới sự chỉ đạo táo bạo của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang đã 2 lần đánh vào thị trấn Củng Sơn nhưng vẫn không thành công, đến lần thứ 3 mới đưa được Luật sư Nguyễn Hữu Thọ ra vùng giải phóng. Luật sư được đưa về Trung ương cục làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, thành lập từ ngày 20/12/1960 mà chưa có Chủ tịch.
 
Sau ngày giải phóng miền Nam, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ về thăm lại Phú Yên. Luật sư đã ôm hôn thắm thiết anh “Sáu Râu” và nói: “Nhân dân, Đảng bộ Phú Yên là ân nhân của tôi, Phú Yên là quê hương thứ hai của tôi. Tôi mãi mãi nhớ Phú Yên”.
 
Năm 1963, phong trào cách mạng Phú Yên phát triển mạnh mẽ, lực lượng vũ trang ngày càng đông, lực lượng dân quân du kích ngày càng nhiều, nhiệm vụ bảo vệ vùng căn cứ, vùng giải phóng vững chắc, để làm chỗ dựa cho cách mạng càng trở nên cấp bách. Nhưng việc cung cấp vũ khí để trang bị cho các lực lượng thì vô cùng khó khăn, bởi các con đường chiến lược như 19, 14, 21 và đường liên tỉnh lộ, tỉnh lộ bị chia cắt. Vũ khí, hàng hóa phải đi hàng tháng mới nhận được một chuyến, mỗi chuyến chỉ được 15-20 kg gạo, anh chị em dân công lại bị tổn thất rất nhiều.
 
Trong tình hình đó, Phân khu Nam, Tỉnh ủy Phú Yên nhận được điện chỉ thị của Trung ương, giao nhiệm vụ cho Phân khu Nam, Tỉnh ủy Phú Yên chuẩn bị bến bãi để tiếp nhận vũ khí Trung ương chi viện cho 3 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Lắk bằng đường biển tại Phú Yên. Việc chọn bến bãi để tiếp nhận vũ khí, yêu cầu bí mật khẩn trương, sớm chừng nào tốt chừng ấy, đồng thời báo cáo phương án tiếp nhận cho Trung ương. Liên tỉnh ủy 3 và Bộ tư lệnh Phân khu Nam điều động và giao cho đồng chí “Sáu Râu” chuyên trách công tác này, trực tiếp lo công tác chuẩn bị các mặt và làm trưởng ban tổ chức tiếp nhận vũ khí, giao nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên cho đồng chí khác.
 
Anh “Sáu Râu” nhận nhiệm vụ cùng với một đồng chí tham mưu phó Phân khu Nam trực tiếp đi khảo sát xác định bến bãi. Cuối cùng xác định được bến tại Vũng Rô, Tuy Hòa là tốt nhất. Tuy có mạo hiểm, bến gần tỉnh đường, sát quốc lộ, thiết lộ nhưng cũng là nơi địch sơ hở nhất. Nếu ta biết tổ chức thật bí mật, chặt chẽ vẫn làm được. Phương án được báo cáo trực tiếp cho Trung ương và Khu V, được cấp trên duyệt và cho thực hiện ngay, yêu cầu làm thật tốt, tránh tổn thất.
 
Vào tối 28/11/1964, chuyến tàu không số đầu tiên cập bến Vũng Rô, đổ 70 tấn vũ khí và liên tiếp sau đó đổ 3 chuyến vũ khí, hàng hóa, thuốc men vào bến. Số vũ khí này được chuyển về phía sau, cấp phát cho các đơn vị bộ đội chiến đấu ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Lắk và dân quân du kích của Phú Yên, huyện Tuy Hòa. Đến chuyến tàu thứ tư thì bị lộ, địch huy động toàn lực cả thủy, lục, không quân để đánh cướp tàu. Bộ đội, dân quân du kích bảo vệ bến bãi đánh trả quyết liệt, đưa toàn bộ thủy thủ, thuyền trưởng lên bờ, đưa ra miền Bắc, dùng thuốc nổ có sẵn trong tàu đánh hỏng và chìm tàu tại chỗ, phá hủy số vũ khí còn lại trên bến và rút lui về phía sau. Địch đánh phá liên tục mấy ngày liền, vẫn không thực hiện được âm mưu cướp tàu, bắt thủy thủ, thu vũ khí. Địch chỉ thu gom được một số vũ khí còn rơi rớt đưa về, dựng lên “Sự kiện Vũng Rô” rồi bù lu, bù loa rằng Việt Nam vi phạm.
 
Cuối năm 1965, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”. Mỹ thật sự đổ quân đội viễn chinh Mỹ và quân chư hầu, tăng cường vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam Việt Nam. Ở Phú Yên, lúc này anh “Sáu Râu” cử đoàn cán bộ Phú Yên do đồng chí Đỗ Hoài Thái - Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Đỗ Thu (Hai Thơm) - Huyện ủy Tuy Hòa vào Trung ương Cục để tham quan và học tập kinh nghiệm về đấu tranh chính trị, binh vận theo kiểu Bến Tre và kinh nghiệm đào địa đạo ở “Củ Chi” để đánh giặc.
 
Khi đoàn về trực tiếp báo cáo với anh Sáu, anh ngồi nghe rất say sưa, gật gù liên tiếp. Sau đó anh giao cho Huyện ủy Tuy Hòa tổ chức làm thí điểm về đấu tranh chính trị - binh vận theo kiểu Bến Tre. Riêng ở tỉnh, anh sẽ tổ chức làm thí điểm đào địa đạo ở Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An như kiểu Củ Chi. Anh Sáu động viên anh em: “Củ Chi sát Sài Gòn còn làm được, Gò Thì Thùng là căn cứ của ta, sao ta lại không làm được”. Kết quả địa đạo Gò Thì Thùng làm được là do công sức của nhân dân các xã An Xuân, An Lĩnh và nhân dân vùng căn cứ giải phóng, thanh niên xung phong, bộ đội ta làm. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Tỉnh đội Phú Yên, nhưng phải nói nhờ ý chí quyết tâm kiên trì chỉ đạo tích cực của anh Sáu, nên địa đạo thành công. Vì thực tế khi đề ra chủ trương này không ít người đã bàn tới, bàn lui, không muốn đào địa đạo Gò Thì Thùng.
 
Có thể nói, toàn bộ những thành tích, những chiến công xuất sắc của tỉnh Phú Yên đều gắn liền với công sức, trí tuệ, sự chỉ đạo kiên trì, gian khổ của anh “Sáu Râu” qua nhiều nhiệm kỳ cấp ủy Đảng. Nhưng về phần đời tư và gia đình, anh “Sáu Râu” cũng quá nhiều gian nan, nhiều nỗi đắng cay, khổ cực...
 
Năm 1964, được Khu ủy đồng ý cho phép anh đưa vợ là chị Nguyễn Thị Phú và 2 con nhỏ ra vùng giải phóng. Vì địch phát hiện anh “Sáu Râu” đang lãnh đạo tại địa phương, nên chúng thường xuyên khủng bố, quản thúc quá ngột ngạt đối với gia đình anh. Chị Phú ra vùng giải phóng, đưa hai cháu gái ra Bắc để học tập, còn chị ở lại công tác tại Văn phòng Huyện ủy Miền Tây. Không bao lâu sau, năm 1968, trong một trận càn quét lớn, địch đã dùng bom đạn đánh trúng vào cơ quan Huyện ủy, chị Phú trúng bom địch, hy sinh cùng lúc với đồng chí Hóa (Ma Bô) - Thường trực Huyện ủy. Anh Sáu hết đỗi đau thương vì 10 năm trời, ở vùng giải phóng cũng như lúc đã đưa vợ con ra vùng giải phóng, anh vẫn mải lao vào công tác, chỉ đạo đối phó với địch, không có thời gian cùng mẹ con chị, giờ thì chị đã ra đi. Anh Sáu day dứt và tâm sự với anh em, hết người này đến người khác. Anh nuốt nỗi đau, biến đau thương thành sức mạnh để công tác và chiến đấu. Giữ vị trí người lãnh đạo lúc này là phải kiên cường, xông pha ra phía trước, để động viên mọi người vượt qua khó khăn gian khổ tưởng không thể nào vượt qua được, vì vùng đồng bằng mất đất, mất dân, vùng căn cứ địa bị bom đạn Mỹ đánh phá xơ xác, đặc biệt là bom tọa độ B52, bom xăng, chất độc hóa học… Hoa màu cây cỏ không còn màu xanh, đói cơm lạt muối. Bộ đội hành quân đánh giặc chỉ gánh theo mỗi người hai quả mít non, nắm cơm toàn sắn mì, hay hạt mít luộc, ống lương khô toàn xơ mít và mì chính kho. Hậu cần cấp phát gạo cho bộ đội đong bằng lon sữa bò, cấp muối đong bằng nắp cù là, muối đựng trong ba lô, túi áo, có chút ít lương thực, thực phẩm dành cho thương bệnh binh, người đau ốm; còn cán bộ dân chính đảng suốt tháng trời chỉ có củ nầng, củ bá, môn dóc, trái sung mà ăn, phần lương thực dự trữ chiến lược, có tí đỉnh anh Sáu cũng vui vẻ chia bớt cho Khánh Hòa, vì Khánh Hòa còn khó khăn gấp nhiều lần ta.
 
Trước tình hình đó, anh Sáu phát động cơ quan, bộ đội, nhân dân vùng căn cứ giải phóng ra sức sản xuất tự túc cho đơn vị, cá nhân mình bằng phát rẫy trồng mì: mì cơ quan, mì tập thể, mì gia đình, mì cá nhân, lập quỹ tập thể, lập quỹ chi bộ, lập quỹ cơ quan bằng rẫy sắn mì. Địch đánh phá ban ngày ta trồng ban đêm, phá chỗ này ta trồng chỗ khác. Đêm trồng, ngày ngụy trang không cho địch phát hiện. Ngay tại các trạm giao liên, khách đi qua đường nghỉ lại một ngày, cũng phải trồng mì. Người đi trước trồng, người đi sau có ăn, mì thành rừng địch không thể nào phá xuể.
 
Sản xuất là biện pháp lâu dài, giải pháp trước mắt là ra sức tiết kiệm triệt để. Người người tiết kiệm, cơ quan, đơn vị tiết kiệm. Anh Sáu bảo: “Cây củ, trái rừng cũng có hạn, nếu không tiết kiệm, đến một thời gian nào đó cũng không còn”. Anh Sáu kêu gọi anh chị em cán bộ, bộ đội, cơ quan phải biết quản lý nên phải chia nhau từng gốc sung, đoạn suối môn dóc, mà quản lý giữ gìn để có cái ăn lâu dài. Lúc đầu anh chị em cũng khó chịu, nhưng khi ngẫm xa thấy đúng, anh chị em vui vẻ chấp hành và càng thương càng mến người lãnh đạo.
 
Anh em bộ đội, cán bộ đi cải thiện, săn bắn, bắt cua, bắt ốc thường được anh Sáu khuyên: “Có bắt thì bắt con đực, để con cái lại cho nó sinh sản”. Anh em thường hỏi vặn lại trêu anh: “Anh kỹ sư canh nông ơi? Không có đực làm sao con cái nó đẻ!”.
 
Mỗi buổi sáng đi công tác xuyên qua rừng gai, tranh dại, hay bãi cỏ lông heo, thấy quần dài anh cột cổ, anh em bảo vệ khuyên anh Sáu nên mặc quần dài vào, gai nó cào rách da! Anh thường trả lời: “Rách da nó còn lành, chứ rách quần tiền đâu mua vải”. Quả thật lúc này không có tiền mua vải, mà có tiền cũng không làm sao mua được vải.
 
 
080101-6suyen.jpg
Cố Bí thư Tỉnh ủy Trần Suyền chụp ảnh lưu niệm với gia đình - Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

 
Tuy tăng gia như thế, tiết kiệm như thế, nhưng đến năm 1966-1967, địch tăng cường đánh phá vùng căn cứ cách mạng bằng chất độ hóa học màu da cam, làm cháy hết hoa màu. Những cây chuối, sắn mì, bắp đang xanh tốt, cây trái sum suê, qua một trận chất độc thì chết trụi. Anh chị em tranh thủ thu hoạch, già non, vẫn phải hái về, sắn mì thì chặt ngọn, giữ gốc lại, nhưng sau khi nhổ lên củ vẫn nhiễm độc biến dạng, lúa gạo làm ra vẫn đều màu vàng, hay màu nâu; nấu cơm, nấu củ ăn có mùi hôi khó chịu, những cây nhỏ còn sống sót khi ra hoa đậu quả đều quái thai, không giống trái bình thường. Mỗi lần nấu cơm, nấu củ anh chị em không thể nào ăn được, đành phải nhịn đói. Anh “Sáu Râu” ngồi chọn từng củ mì, đơm từng chén cơm ít nhiễm độc, cố gắng ăn để no bụng, và động viên anh em cố gắng ăn cho đỡ sức, để lao động công tác. Anh chị em vừa sợ vừa thương người lãnh đạo hết lòng, hết sức gương mẫu, có cuộc sống đơn giản, lúc nào cũng sẵn sàng nhận cái khổ về mình, nói là làm, nên ai cũng mến, cũng thương.
 
Anh Sáu sống độc thân một thời gian khá dài, sau này anh đi bước nữa với chị Nguyễn Thị Thuận, cán bộ công tác tại Thị ủy Tuy Hòa. Chị Thuận sinh cho anh được hai cháu, một trai, một gái. Chị Thuận được điều động về Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Yên, anh Sáu được điều động về Liên khu ủy V, làm Trưởng ban Kinh tế của Khu ủy, chị Thuận và 2 con ở lại Phú Yên. Trong một đợt càn quét của địch lâu ngày vào căn cứ, vào khu cơ quan Ban Tổ chức Tỉnh ủy, tất cả cán bộ đều phải lánh cư đi nơi khác. Sau khi địch rút, chúng gài mìn. Chị Thuận nghe tin địch rút, chị tranh thủ về trước để nắm tình hình và chăm sóc đàn gà, đàn lợn của cơ quan, đã mấy ngày qua không cho nó ăn. Chị vướng phải mìn bị địch gài. Chị qua đời để lại 2 con thơ, đwsa con trai nhỏ là Trần Hữu Thế mới sinh chưa đầy một năm tuổi.
 
Được tin vợ mất, anh Sáu trở về Phú Yên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Không có bà con tại căn cứ, anh không nỡ để 2 con nhỏ tại cơ quan Tỉnh ủy. Anh bàn với cơ quan tổ chức để cùng đưa hai con nhỏ về Khu ủy V nuôi nấng. Thấy anh cảnh gà trống nuôi con, trong vùng chiến tranh ác liệt, Khu ủy V không nỡ, nên thu xếp công việc cho anh nghỉ công tác một thời gian để đưa hai cháu ra miền Bắc, thu xếp việc nuôi dưỡng, chăm sóc cháu rồi trở lại Khu V.
 
Nhưng tình hình diễn biến không như ý định. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh chưa kịp có mặt. Một tháng sau giải phóng, anh đưa hai cháu về lại thị xã Tuy Hòa. Anh tiếp tục tham gia vào việc chuẩn bị sáp nhập hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Anh tiếp tục tham gia vào Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Khánh với cái tên khai sinh: Trần Suyền. Sau này, anh làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh, Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa V.
 
Năm 1989, tỉnh Phú Yên tái lập. Anh Sáu Suyền trở về lại Phú Yên, làm Chủ tịch Hội Liên hiệp các dân tộc. Anh nghỉ hưu tại thị xã Tuy Hòa.
 
Tuy tuổi cao sức yếu, nghỉ hưu theo chế độ, nhưng anh vẫn say sưa công tác, say sưa nghiên cứu về phát triển kinh tế, về cơ chế mới để giúp anh em xây dựng phát triển tỉnh nhà. Anh thường đi lại những nơi căn cứ mà anh đã từng lăn lộn trong chiến tranh, để khai phá, trồng trọt, tìm nguồn nước làm thủy lợi, thủy điện. Nói chung, tâm tư, nguyện vọng, anh vẫn còn muốn mãi phục vụ cho nhân dân, cho Đảng.
 
Đáng tiếc là đầu năm 1998, anh mang bệnh ung thư, căn bệnh hiểm nghèo do kết quả của những năm lăn lộn với chất độc hóa học màu da cam do Mỹ ngụy gieo rắc. Ba tháng sau anh mất.
 
Anh Suyền mất đi, nhưng để lại bao tấm gương tốt cho mọi người noi theo và mến thương vô hạn.

 

86 Năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
chu thap do
00 Ngày
00 Giờ
00 Phút
00 Giây
Lịch sử Việt Nam
Liên kết

 

 

 

Thăm dò ý kiến

Bạn dành bao nhiêu thời gian tự học?

Quỹ ươm mầm tương lai
Thống kê
  • Đang truy cập21
  • Hôm nay460
  • Tháng hiện tại12,014
  • Tổng lượt truy cập55,900
Văn Bản

12/QĐ-THPT TS

Quyết định về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tại trường THPT Trần Suyền

250 /BC-THPTTS

Báo cáo tổng kết năm học 2015-216 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2016-2017

260 /NQ-THPT TS

Nghị quyết hội nghị cán bộ công chức, viên chức và người lao động

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây